Nghiên cứu thu nhận tinh dầu từ lá Trầu (Piper betle)
17-07-2026

Cây Trầu (Piper betle) là một cây thuốc truyền thống được phân bố chủ yếu ở khu vực nhiệt đới; trong đó lá Trầu là bộ phận được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi nhất. Trong y học cổ truyền, lá Trầu được sử dụng làm nước súc miệng ở Ấn Độ và Thái Lan, điều trị các vấn đề về răng miệng, đau đầu, viêm khớp ở Malaysia, nước ép lá Trầu được dùng để điều trị các bệnh về da ở Sri Lanka. Ngoài ra, lá Trầu còn được sử dụng làm thuốc ho, thuốc bổ hoặc chất làm se (Joesoef & ctv., 1996; Arambewela & ctv., 2010; Chowdhury & ctv., 2020).

Hình 1: Tinh dầu lá trầu

Các ứng dụng của lá Trầu có liên quan đến đặc tính kháng khuẩn và kháng nấm của chúng. Tinh dầu và chiết xuất lá Trầu có khả năng ức chế sự phát triển của vi nhiều loại vi khuẩn Gram âm như Escherichia coli, Pseudomenas aeruginosa, Acinetobacter baumannii, Klebsiella pneumonia; Gram dương như Staphylococcus aureus, Propionibacterium acnes, Streptococcus pyogenes, Staphylococcus epidermidis, Enterobacter faecalis; cũng như các loài nấm, bao gồm cả những loại nấm kháng đa thuốc và gây ra các bệnh nghiêm trọng như Aspergillus flavus, Aspergillus fumigatus, Aspergillus parasiticus, Candida albicans, Candida glabrata, Candida parapsilosis, Epidermophyton floccosum, Trichophyton mentagrophytes, Trichophyton rubrum, Microsporum canis (Nayaka & ctv., 2021).

Hình 2: Hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu lá Trầu.
(+) Tetracycline 0,2%; (-) Nước khử ion; (TD) Tinh dầu. 

Thành phần hóa học của tinh dầu lá Trầu rất đa dạng tùy thuộc vào nguồn gốc, tuổi cây và thời gian thu hoạch. Kết quả phân tích thành phần tinh dầu lá Trầu Ấn Độ chứa chủ yếu nhóm phenylpropanoid như acetyl eugenol, eugenol, chavicol và safrole. Trong khi đó, tinh dầu lá Trầu từ các nghiên cứu khác chứa các hợp chất phổ biến như estragole, linalool, α-copaene, anethole, and caryophyllene α-terpinene, 1,8-cineole, β-caryophyllene, α-humulene, allyl pyrocatechol, allylcatechol, methyl eugenol, estragol (methyl chavicol), chavibetol, chavibetol acetate, safrol, 4-allyl-2-methoxy-phenolacetate và 3-allyl-6-methoxyphenol (Madhumita & ctv., 2019; Salehi & ctv., 2019). 

Ngoài tinh dầu, lá Trầu còn chứa đa dạng các thành phần khác như steroids, tannins, proteins, amino acids, flavonoids, terpenoids, saponin và carbohydrates. Lá Trầu được xem là nguồn thảo dược phong phú và tiềm năng trong ngành công nghiệp thực phẩm và dược phẩm.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm sử dụng tối đa nguồn lá Trầu để thu nhận chiết xuất tinh dầu từ lá Trầu có tiềm năng phát triển sản phẩm thay thế thuốc kháng sinh tổng hợp truyền thống bằng kháng sinh từ thực vật từ lá trầu. Hơn nữa, với khả năng kháng vi khuẩn ở đường ruột có thể ứng dụng trong việc bảo quản thực phẩm hoặc áp dụng các hợp chất thiên nhiên này trong lĩnh vực mỹ phẩm, nhất là trong việc điều trị các bệnh do vi khuẩn, nấm trên da.

Quy trình chiết xuất tinh dầu lá trầu được đề xuất thực hiện như sau:

Tinh dầu lá Trầu được chiết xuất bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước có hỗ trợ của sóng siêu âm (30 phút) với tỉ lệ nguyên liệu tươi: nước là 1:4 (w/v) trong 4 giờ (Nguyen & ctv., 2016). Sau khi quá trình chưng cất kết thúc, thu dịch trong ống hứng vào bình chiết. Thêm vào bình chiết 50 mL n-hexan, lắc đều, để lắng, dịch trong bình chiết sẽ tách thành 2 lớp, thu lớp phía trên vào bình cầu, lớp phía dưới tiếp tục lắc lần 2 bằng 50 mL n-hexan, thu phần phía trên gộp vào bình chiết. Tinh dầu được thu nhận bằng cách cô quay chân không để loại bỏ dung môi.

Hình 3: Sắc ký đồ GC-MS phân tích thành phần tinh dầu lá Trầu

Hàm lượng tinh dầu trong lá Trầu đạt 3,14%, tinh dầu chứa các thành phần chính như eugenol (50,37%), γ-muurolene (9,65%) và α-copaene (8,22%). Tinh dầu lá Trầu có hoạt tính chống oxy hóa với giá trị IC50 là 0,13 mg/mL, đồng thời thể hiện tính kháng với ba chủng vi khuẩn là Escherichia coli, Salmonella sp. và Bacillus cereus với đường kính vòng vô khuẩn lần lượt là 7,67 mm, 8,33 mm và 6,33 mm.

Ngày đăng: 17-07-2026

Tác giả: Đặng Chí Thiện

loading-gif
mess-icon zalo-icon call-icon group-icon